Đại hội Đảng XIV xác định: Phát triển khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là đột phá chiến lược, yếu tố quyết định để hình thành lực lượng sản xuất mới, nâng cao năng suất lao động và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Đây cũng là thách thức lớn về năng lực điều hành, quản lý theo công nghệ ở mọi lĩnh vực để phát triển trong kỷ nguyên mới. Bài này đi sâu lĩnh vực đất đai, có ý nghĩa nền tảng trong quản lý nhà nước và phát triển kinh tế-xã hội, yêu cầu quản lý bằng công nghệ số với việc xây dựng và hoàn thiện cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai. Nguyên tắc xuyên suốt hệ thống dữ liệu là “đúng-đủ-sạch-sống-thống nhất-dùng chung” đặt ra một nhiệm vụ cấp bách, gắn với đổi mới phương thức quản lý nhà nước, cải cách thủ tục hành chính, chuyển đổi số quốc gia, phục vụ yêu cầu bảo đảm quốc phòng, an ninh.

Xác lập rõ mô hình tăng trưởng mới
Bối cảnh hiện nay, công nghệ số, trí tuệ nhân tạo và dữ liệu đang trở thành hạ tầng phát triển mới, dẫn tới cạnh tranh giữa các quốc gia chủ yếu là cạnh tranh công nghệ. Nhiều nước đã điều chỉnh chiến lược theo hướng lấy công nghệ làm trụ cột phát triển và năng lực làm chủ công nghệ trở thành yếu tố quyết định vị thế quốc gia. Nước ta sau 40 năm đổi mới, đạt được nhiều thành tựu nhưng mô hình tăng trưởng đã bộc lộ giới hạn, nhất là tồn tại khoảng cách giữa công nghệ với thể chế và quản trị làm hạn chế hiệu quả. Để tiếp tục phát triển, khoa học-công nghệ phải đặt ở vị trí trung tâm của mô hình tăng trưởng mới.
Tiến sỹ Tạ Ngọc Tấn, nguyên Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, cho biết Đại hội Đảng XIV đã xác lập rõ mô hình tăng trưởng mới; Lấy khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính. Ông nói: “Đại hội Đảng XIV đã xác định rõ: phát triển khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia không chỉ là một nhiệm vụ quan trọng, mà là đột phá chiến lược, là yếu tố quyết định để hình thành lực lượng sản xuất mới, nâng cao năng suất lao động và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Điều này thể hiện bước chuyển mạnh mẽ từ tư duy coi khoa học-công nghệ là “hỗ trợ” sang coi đây là “động lực trực tiếp” của tăng trưởng”.
Khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số chính là động lực chủ yếu thúc đẩy sự vận hành và phát triển của mô hình tăng trưởng trong kỷ nguyên mới. Yêu cầu đặt ra là phải đẩy mạnh chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, đồng thời gắn chặt với tái cơ cấu nền kinh tế và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Việc hình thành các cực tăng trưởng, các vùng kinh tế động lực cũng cần được đặt trong mối quan hệ với phát triển khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo, tạo ra sự lan tỏa trong toàn bộ nền kinh tế.
“Một điểm đột phá rất quan trọng là yêu cầu đổi mới mạnh mẽ cơ chế, chính sách tài chính và đầu tư cho khoa học-công nghệ, giáo dục-đào tạo, xóa bỏ các rào cản, tạo môi trường thuận lợi cho sáng tạo và phát triển. Đây chính là điều kiện để giải phóng tiềm năng, phát huy nguồn lực trí tuệ của xã hội, đưa khoa học-công nghệ thực sự trở thành động lực chủ yếu của phát triển”, Tiến sỹ Tạ Ngọc Tấn nhấn mạnh.
Nghiên cứu văn kiện Đại hội Đảng XIV thấy rất rõ, khoa học-công nghệ đã được xem là nền tảng của phát triển nhanh, bền vững và tự chủ. Tăng trưởng chuyển dịch từ chiều rộng sang chiều sâu; từ dựa vào tài nguyên, lao động giá rẻ sang tri thức, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Trong kỷ nguyên mới, khoa học-công nghệ là động lực chính, yếu tố trực tiếp tạo tăng trưởng nên yêu cầu chuyển đổi mô hình tăng trưởng bức thiết đặt ra, để tri thức, dữ liệu và công nghệ trở thành nền tảng của năng suất và cạnh tranh. Khoa học-công nghệ đặt trong hệ sinh thái phát triển thống nhất; khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, phát triển xanh và nhân lực gắn kết trong một logic tích hợp, không được tách rời từng lĩnh vực. Chiến lược quốc gia đòi hỏi làm chủ công nghệ để làm chủ các lĩnh vực then chốt, nâng cao vị thế và quyền tự quyết của Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu. Phương thức quản trị phải chuyển từ quản lý hành chính sang quản trị theo kết quả, sản phẩm và dữ liệu.
Thực tiễn làm dữ liệu một mảnh đất ở Cần Thơ
Ông T. ở phường Tân An, thành phố Cần Thơ kể câu chuyện của ông đầu năm 2026 đi làm dữ liệu một mảnh đất để đạt tiêu chuẩn “đúng-đủ-sạch-sống-thống nhất-dùng chung” như sau:
“Ngành Thuế mở eTaxMobile, tôi vào thấy nợ gần 7 triệu đồng tiền thuế. Chạy đến Thuế cơ sở 1 thành phố Cần Thơ được hướng dẫn gặp cô Tú ở bộ phận thuế đất phi nông nghiệp. Cô Tú nhỏ nhắn nhưng lanh lẹ, rà soát một lúc cho biết, tôi nộp thuế từ năm 2018 còn thiếu diện tích nên bị truy thu và phạt chậm nộp. Tôi trình bày lỗi ở các cơ quan quản lý: Đất tôi trước đây do cấp huyện đo tay làm sổ đỏ 286,6 m2, năm 2018 chuyển sang Sở TN&MT đo máy làm sổ đỏ thực tế chỉ 245,2 m2; như thế hàng chục năm trước tôi nộp thuế thừa 41,4 m2 thì nhà nước phải trả lại chứ? Cô Tú giải thích, cần có chứng cứ cụ thể, nếu không có chứng cứ thì phải nộp hết nợ cũ và làm thủ tục xin điều chỉnh để thôi báo nợ mới. Việc quá phức tạp vì cấp huyện không còn.

“May mắn lục tủ nhà còn xấp bản photo quá trình làm sổ đỏ trước kia, đưa đến cô Tú. Cô xem, hướng dẫn làm 3 bộ hồ sơ đề nghị 3 việc liên quan, nộp tại phường Tân An, cho cô Dương. Một ngày xong các bộ hồ sơ, ôm ra phường, cô Dương đậm đà, nhiệt tình giúp hoàn chỉnh và nhận. Nửa tháng sau, cô Tú điện thoại, tôi chạy đến, được biết diện tích đất đã điều chỉnh theo thực tế và không phải nộp thuế 41,4 m2 nhưng trong quá trình làm sổ đỏ trước đây, tôi nộp thuế có thiếu vài năm, nay phải nộp. Tôi đồng ý. Cô Tú đi xin chữ ký và đóng dấu tờ thông báo nộp tiền vào Ngân hàng Quân đội (MB) cho tôi. Trong buổi, tôi mượn tiền nộp xong. Nhưng suốt tuần, vào eTaxMobile vẫn thấy nợ thuế. Lại chạy đến cơ quan thuế, cô Tú xem nhanh nói liền, MB nhập sai mã tiểu mục nên tiền chưa vào đúng địa chỉ; phải chỉnh và nộp thêm tiền phạt chậm nộp tuần qua. Lại thông báo mới, xin chữ ký và đóng dấu, tôi lại đến MB. Mấy cô MB xin chịu khoản tiền phạt chậm nộp một tuần. Đã cuối chiều, tôi ngồi nghỉ, vào eTaxMobile thì thông báo phạt chậm nộp thêm ngày hiện tại. Muốn nộp thêm cho dứt nợ nhưng nhân viên MB bảo phải có giấy thông báo của thuế. Nén tiếng thở dài, tôi trở lại gặp cô Tú.
“Lúc này, cô Tú đang làm việc với một thanh niên. Tôi xin phép chen ngang. Chàng thanh niên mỉm cười góp ý: Số tiền ít, khỏi qua MB nữa mà bấm thẻ nộp luôn cho khỏe. Tôi băn khoăn, chưa rành công nghệ sợ bấm chưa được. Cô Tú nói, nếu chú không nộp bằng thẻ được thì điện thoại cháu sẽ nộp giúp, biếu luôn mấy ngàn để chú đỡ chạy vất vả. Tôi cảm ơn và nghe theo.
“Về nhà, tôi mấy lần vào eTaxMobile không nộp được, bởi thẻ ATM làm trước đây chưa thể thanh toán điện tử, giờ muốn thì phải đến ngân hàng cài đặt thêm. Đội nắng chạy đến chi nhánh Agribank gần nhà. Nhân viên ngân hàng giúp ngay, bấm một hồi xong. Tôi cười, về nhà nếu chưa được mai lại đến nhờ nhé? Các nhân viên cười gật đầu. Vài khách có mặt cười theo, nói coi như đi học chuyển đổi số.
“Hôm sau, trong eTaxMobile đã sạch nợ thuế của tôi. Mất một tháng với 11 lần chạy từ 2-5 cây số. Mảnh đất nhỏ ở trung tâm thành phố mà như vậy, cả nước chuyển đổi số sẽ thế nào?
“Nhớ lại quá trình làm sổ đỏ trước đây, mỗi lần thay đổi là tôi cầm về khoe vợ “bước ngoặt mới tiến lên”, nói theo thói quen lúc đó. Ngoặt nhiều nên rối nùi. Mảnh đất nhỏ của tôi sau hai lần đổi sổ đỏ, tiếp theo còn chia đất ở và đất vườn cấp hai sổ đỏ riêng; mỗi lần đổi sổ đỏ là đổi cả số thửa đất và số bản đồ; bên cạnh nhiều lần đổi tên khu vực, tên phường, tên đường. Mã số thuế cũng thay đổi. Nên quả thực, lúc mới được cô Tú chỉ cho cục rối nùi, tôi hoang mang, không biết gỡ được không. Nhờ trời, tuổi trẻ thời nay thông minh, lanh lẹ nên giúp gỡ được. Tìm hiểu thêm, tôi được biết, nhiều bạn trẻ rời phòng làm việc về nhà có khi phải lên mạng làm việc đến một giờ sáng, tìm dữ liệu, kết nối trong và ngoài hệ thống mới gỡ rối được cho dân”.
Mục tiêu xây dựng dữ liệu đất của cả nước trong năm 2026
Thành phố Cần Thơ sau sáp nhập có diện tích 6.360 km2, với 103 đơn vị cấp xã. Hiện chỉ 36/103 cấp xã (gần 35%) có bản đồ địa chính chính quy, chủ yếu theo quy chuẩn từ năm 2004 với nhiều thông tin đã cũ để xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai. Tổng cộng gần 2 triệu thửa đất, mới xây dựng cơ sở dữ liệu được 694.000 thửa, gần 37% mà cũng chưa đáp ứng hoàn toàn “đúng-đủ-sạch-sống”. Đến cuối năm 2025, số hóa được 280.532 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, tỷ lệ rất thấp.
Để hoàn thiện hệ thống quản lý đất theo công nghệ số, UBND thành phố Cần Thơ giao Sở NN&MT xây dựng dự án “Đo đạc, chỉnh lý bản đồ địa chính; cấp, đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai giai đoạn 2026 – 2030”, tổng mức đầu tư dự kiến 1.203 tỷ đồng. Kế hoạch năm 2026, thành phố bố trí 350 tỷ đồng để chuẩn bị đầu tư và tổ chức đấu thầu, năm 2027 bố trí khoảng 600 tỷ đồng phục vụ triển khai thi công, đo đạc và kiểm tra nghiệm thu. Trong đó, khoảng 100 tỷ đồng dành cho việc số hóa hồ sơ địa chính từ hệ thống văn phòng đăng ký.
Trên cả nước, chiều 30/3/2026, Bộ NN&MT tổ chức hội nghị trực tuyến toàn quốc triển khai công tác đo đạc, lập bản đồ địa chính, đăng ký đất đai, lập hồ sơ địa chính và xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai. Nguyên tắc xây dựng hệ thống dữ liệu “đúng – đủ – sạch – sống-thống nhất – dùng chung”. Cục Quản lý đất đai cho hay, cả nước có khoảng 106 triệu thửa đất. Đến nay, mới 24 triệu thửa (gần 23%) được cập nhật vào cơ sở dữ liệu cơ bản đạt “đúng-đủ-sạch” và cần cập nhật thêm thời gian thực để đạt tiêu chuẩn “sống”; hơn 37 triệu thửa (gần 35%) được cập nhật vào cơ sở dữ liệu nhưng phải tiếp tục đo đạc, cập nhật thông tin để đảm bảo các tiêu chuẩn; còn 45 triệu thửa (hơn 42%) chưa được cập nhật vào cơ sở dữ liệu.
Như thế, cả nước còn 45 triệu thửa đất chưa được tạo lập dữ liệu đưa vào hệ thống và hơn 37 triệu thửa cần làm sạch, đối soát, cập nhật. Một khối lượng công việc rất lớn, đòi hỏi triển khai đồng bộ các giải pháp kỹ thuật. Bên cạnh còn yêu cầu về an ninh mạng, an toàn dữ liệu, đối soát dữ liệu dân cư ở ngành Công an, kết nối đồng bộ.
Bộ NN&MT đã xây dựng 4 nhóm dữ liệu thành phần quan trọng: Dữ liệu hiện trạng sử dụng đất; Dữ liệu quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất quốc gia; Dữ liệu khung giá đất; Dữ liệu điều tra cơ bản về đất đai. Tại địa phương, việc cấp mã định danh cho hơn 69,7 triệu thửa đất đã được triển khai, tạo nền tảng chuẩn hóa và liên thông dữ liệu.
Kế hoạch từ 1/4 đến 31/12/2026, cả nước tập trung rà soát, làm sạch toàn bộ cơ sở dữ liệu đất đai đã có; Đo đạc, lập bản đồ địa chính; Đăng ký đất đai; Lập hồ sơ địa chính và xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai. Sau khi làm sạch dữ liệu, sẽ đồng bộ ba khối thông tin và đối khớp tự động giữa thông tin người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản với cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư ở Bộ Công an quản lý. Việc kết nối, chia sẻ dữ liệu nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, giảm thủ tục hành chính, tăng tính minh bạch và phục vụ người dân, doanh nghiệp.
Mục tiêu trong năm 2026 cơ bản hoàn thành đo đạc, lập bản đồ địa chính, đăng ký đất, lập hồ sơ tài chính và xây dựng, hoàn thiện cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai trên phạm vi toàn quốc. Bảo đảm phủ kín toàn bộ thửa đất, vận hành thống nhất, đồng bộ, phục vụ hiệu quả quản lý nhà nước và cung cấp dịch vụ công.
Giải pháp đột phá qua Thông tư số 19/2026/TT-BNNMT
Nhiệm vụ xây dựng dữ liệu đất của cả nước trong năm 2026 rất nặng nề, bởi còn 45 triệu thửa đất chưa được tạo lập dữ liệu đưa vào hệ thống và hơn 37 triệu thửa cần làm sạch, đối soát, cập nhật. Nếu làm theo cách cũ tuần tự qua 4 bước: Đo đạc-Lập hồ sơ-Đăng ký-Cơ sở dữ liệu thì tăng độ trễ từng khâu, sẽ khó xử lý khối lượng công việc không lồ. Trong khi Nghị quyết Đại hội Đảng XIV đã xác định động lực chủ yếu thúc đẩy sự vận hành và phát triển của mô hình tăng trưởng trong kỷ nguyên mới là khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, nên ngày 30/3/2026, Bộ NN&MT ban hành Thông tư số 19/2026/TT-BNNMT có hiệu lực từ ngày ký.
Thông tư số 19/2026/TT-BNNMT “quy định kỹ thuật thực hiện lồng ghép nội dung đo đạc lập bản đồ địa chính, đăng ký đất đai, lập hồ sơ địa chính và xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai”. Những giải pháp mang tính đột phá, hướng dẩn cách làm mới, khác trước đây để đẩy nhanh tiến độ, đảm bảo chính xác. Đó là phương thức lồng ghép kiểm tra chéo về tọa độ, khối lượng thực địa và hồ sơ đăng ký, đồng thời được ký số và tích hợp ngay vào hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia.
Nguyên tắc lồng ghép toàn bộ quá trình đo đạc lập bản đồ địa chính, đăng ký đất, tài sản gắn liền với đất, xây dựng cơ sở dữ liệu. Gồm, 1.Các nội dung đăng ký đất, tài sản gắn liền với đất, lập hồ sơ địa chính, xây dựng, cập nhật cơ sở dữ liệu địa chính phải lồng ghép khi thực hiện đo vẽ chi tiết thửa đất theo mảnh bản đồ. 2.Sản phẩm trong quá trình thực hiện lồng ghép phải đảm bảo các yêu cầu kỹ thuật theo quy định về đo đạc lập bản đồ địa chính, lập hồ sơ địa chính, đăng ký đất, tài sản gắn liền với đất, xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính. 3.Việc đăng ký đất, lập hồ sơ địa chính, tạo lập dữ liệu không gian, dữ liệu thuộc tính của thửa đất được thực hiện trên hệ thống phần mềm xây dựng cơ sở dữ liệu đất ở địa phương. Cơ quan quản lý đất; đơn vị thi công; đơn vị giám sát, kiểm tra; Văn phòng đăng ký đất và các cơ quan có liên quan được cấp quyền khai thác để phục vụ đăng ký đất, lập hồ sơ địa chính và xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính. 4.Việc áp dụng định mức kinh tế – kỹ thuật hiện hành để thực hiện các nội dung đo đạc lập bản đồ địa chính, đăng ký đất, tài sản gắn liền với đất, lập hồ sơ địa chính, xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính phải gắn với các nội dung được lồng ghép có liên quan. 5.Việc thực hiện các nội dung lồng ghép, chỉ phí phải xác định trên cơ sở định mức kinh tế – kỹ thuật của từng nội dung công việc tương ứng; phần khối lượng trùng lặp, dùng chung giữa các công đoạn lồng ghép chỉ được tính một lần theo định mức cao nhất. 6.Việc kiểm tra chất lượng các hạng mục công trình, sản phẩm được lồng ghép trong quá trình thực hiện đo đạc lập bản đồ địa chính, đăng ký đất, tài sản gắn liền với đất, lập hồ sơ địa chính và xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính.
Thông tư quy định chi tiết kỹ thuật lồng ghép với 5 nội dung từ Điều 4 đến Điều 8 như sau. Điều 4: Lồng ghép nội dung chuẩn bị đăng ký đất đai, tài sản gắn liền với đất, lập hồ sơ địa chính, xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính với đo đạc lập bản đồ địa chính. Điều 5: Lồng ghép nội dung thu thập hồ sơ, tài liệu đồng thời với đo đạc ngoại nghiệp và kê khai đăng ký đất đai, tài sản gắn liền với đất. Điều 6: Lồng ghép nội dung xử lý nội nghiệp của kết quả đo đạc lập bản đồ địa chính với lập hồ sơ địa chính và xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính. Điều 7: Lồng ghép nội dung giám sát, kiểm tra kết quả đo đạc lập bản đồ địa chính với đăng ký đất đai, tài sản gắn liền với đất, lập hồ sơ địa chính và xây dụng cơ sở dữ liệu địa chính. Điều 8: Lồng ghép nội dung đăng ký đất đai, tài sản gắn liền với đất với việc hoàn thiện sản phẩm, công trình.
Hoạt động kiểm tra, nghiệm thu công trình, sản phẩm cũng được thực hiện lồng ghép. Cụ thể: “Nội dung kiểm tra chất lượng các hạng mục công trình, sản phẩm được thực hiện lồng ghép nội dung đo đạc lập bản đồ địa chính, đăng ký đất đai, tài sản gắn liền với đất, lập hồ sơ địa chính và xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính. Việc thẩm định, nghiệm thu công trình, sản phẩm được thực hiện lồng ghép nội dung đo đạc lập bản đồ địa chính, đăng ký đất đai, tài sản gắn liền với đất, lập hồ sơ địa chính và xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính theo quy định về cơ chế giám sát, đánh giá, kiểm định chất lượng và quy chế kiểm tra, nghiệm thu sản phầm trong lĩnh vực quản lý đất đai của địa phương”.
Kỳ vọng, kỹ thuật lồng ghép: Dữ liệu được thu thập và đo đạc đồng thời; Xử lý song song dữ liệu thực địa và nội nghiệp hòa làm một; Số hóa đầu cuối không chờ đợi, không tồn đọng hồ sơ. Phương thức lồng ghép kiểm tra chéo về tọa độ, khối lượng thực địa và hồ sơ đăng ký; đồng thời được ký số và tích hợp ngay vào hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia. Tất cả sẽ đẩy nhanh tiến độ, đạt được kết quả đề ra.
Định hướng hiện thực hóa quan điểm của Đại hội Đảng XIV
Cuộc sống đòi hỏi mọi lĩnh vực có giải pháp đột phá như quản lý đất. Tiến sỹ Lê Xuân Định, Thứ trưởng Bộ KH&CN cho rằng, văn kiện Đại hội Đảng XIV đã xác lập nền tảng của mô hình tăng trưởng mới, yêu cầu đặt ra hiện nay là tổ chức triển khai thực chất, có trọng tâm, có đầu ra và có trách nhiệm rõ ràng. Theo ông, có 7 vấn đề cần tiến hành như sau:
“1.Đổi mới cách tiếp cận phát triển khoa học-công nghệ: Cần chuyển mạnh từ cách tiếp cận theo danh mục công nghệ sang cách tiếp cận theo chuỗi “bài toán phát triển-công nghệ-sản phẩm-thị trường”, lấy nhu cầu của nền kinh tế và doanh nghiệp làm điểm xuất phát. Điều này bảo đảm hoạt động khoa học-công nghệ được đo bằng giá trị tạo ra, thay vì dừng ở số lượng nhiệm vụ hay kết quả trung gian.
“2.Tái cấu trúc chương trình, tập trung vào công nghệ chiến lược: Hệ thống chương trình khoa học-công nghệ cần được tổ chức lại theo hướng tinh gọn, phân tầng rõ và ưu tiên các lĩnh vực có tác động lan tỏa lớn như trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, dữ liệu và các công nghệ số cốt lõi. Việc tập trung không chỉ nhằm tránh dàn trải, mà để hình thành các chương trình đủ lớn, đủ dài hạn, có khả năng tạo ra công nghệ và sản phẩm mang tính dẫn dắt. Đồng thời, thiết lập mô hình quản trị thống nhất và thông minh trên nền tảng số, nâng cao tính minh bạch, hạn chế trùng lặp trong quản lý các nhiệm vụ.
“3.Đổi mới phương thức quản trị và điều hành: Cần chuyển từ mô hình quản lý hành chính sang quản trị hiện đại, lấy dữ liệu và kết quả làm nền tảng. Các chương trình phải có mục tiêu, sản phẩm, chỉ số và tiến độ rõ ràng; trách nhiệm gắn với đầu ra cụ thể. Đồng thời, tăng cường liên thông dữ liệu và phối hợp liên ngành để nâng cao hiệu quả điều hành.
“4.Cải cách cơ chế tài chính cho khoa học-công nghệ: Cơ chế tài chính cần chuyển từ cấp phát theo đầu vào sang tài trợ theo kết quả và tác động; đẩy mạnh cơ chế Nhà nước chủ động đặt hàng để giải quyết các bài toán lớn của quốc gia, các chương trình, nhiệm vụ gắn với công nghệ chiến lược; tập trung nguồn lực cho chương trình, dự án quy mô lớn, có sản phẩm cụ thể, có địa chỉ ứng dụng và có doanh nghiệp, viện, trường tham gia. Đồng thời chấp nhận rủi ro có kiểm soát để khuyến khích đổi mới sáng tạo. Việc thiết kế các công cụ như sandbox, đặt hàng công nghệ, mua sắm công và hỗ trợ sản phẩm đầu tiên là điều kiện quan trọng để thúc đẩy thương mại hóa công nghệ.
“5.Phát triển thị trường khoa học-công nghệ và phát huy vai trò doanh nghiệp: Cần hình thành thị trường khoa học-công nghệ phát triển thực chất, theo hướng hiện đại, minh bạch và liên thông, trong đó doanh nghiệp là trung tâm của hệ thống đổi mới sáng tạo. Doanh nghiệp không chỉ là nơi ứng dụng, mà phải trở thành chủ thể đặt hàng, hấp thụ, làm chủ, cải tiến, thương mại hóa công nghệ, trọng tâm là công nghệ chiến lược; đồng thời tăng cường liên kết với viện nghiên cứu và trường đại học.
“6.Phát triển đồng bộ hạ tầng và nhân lực công nghệ: Đầu tư cho hạ tầng dữ liệu, tính toán, các trung tâm nghiên cứu và thử nghiệm phải được coi là đầu tư cho năng lực sản xuất mới. Song song với đó, cần phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đặc biệt là nhân lực số và nhân lực công nghệ chiến lược, thu hút và sử dụng hiệu quả nhà khoa học, chuyên gia giỏi trong nước, người Việt Nam ở nước ngoài và chuyên gia quốc tế tham gia các dự án trọng điểm nhằm nâng cao khả năng hấp thụ và làm chủ công nghệ.
“7.Tăng cường điều phối và kỷ luật thực thi: Điểm mấu chốt là tổ chức thực hiện theo tinh thần 6 rõ “rõ người, rõ việc, rõ thời gian, rõ trách nhiệm, rõ sản phẩm, rõ thẩm quyền”; có cơ chế điều phối thống nhất và giám sát dựa trên dữ liệu. Chuyển từ triển khai nhiệm vụ sang tạo kết quả cụ thể, bảo đảm các chủ trương được chuyển hóa thành tác động thực chất đối với tăng trưởng và năng lực cạnh tranh”.
Rõ ràng, trong giai đoạn tới, phát triển khoa học-công nghệ phải được nhìn nhận như một nhiệm vụ chiến lược của toàn bộ quá trình phát triển đất nước. Đây không chỉ là yêu cầu để nâng cao chất lượng tăng trưởng, mà còn là điều kiện để Việt Nam chủ động hơn trong hội nhập, thích ứng tốt hơn trước những biến động lớn của thời đại và củng cố nền tảng phát triển nhanh, bền vững và tự chủ chiến lược trong dài hạn.
Tiến sỹ, Thứ trưởng Bộ KH&CN Lê Xuân Định kết luận: “Nhiệm vụ đặt ra hiện nay là tổ chức thực hiện thật tốt để các quan điểm lớn của Đại hội Đảng XIV được chuyển hóa thành kết quả cụ thể trong thực tiễn. Có thể khẳng định rằng, nếu được tổ chức triển khai đúng hướng, đồng bộ và quyết liệt, thì khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số sẽ thực sự trở thành động lực chính của mô hình tăng trưởng mới, đúng với tinh thần mà văn kiện Đại hội Đảng XIV đã đặt ra”.
SÁU NGHỆ










