Thủ tướng: ‘Không thể dùng biện pháp phong tỏa mãi’

0

 

 

Thủ tướng Phạm Minh Chính cho rằng không thể sử dụng biện pháp phong tỏa mãi, vì khó khăn cho nhân dân và nền kinh tế là rất lớn.

Sau khi nhấn mạnh quan điểm trên tại buổi làm việc chiều 1/9 với hơn 70 nhà khoa học trong lĩnh vực y tế, Thủ tướng nói phải đẩy lùi và chiến thắng dịch bệnh bằng tổng hòa các giải pháp. Mục tiêu của cả nước là không để dịch lây lan, có giải pháp thích nghi an toàn với dịch bệnh, giảm tỷ lệ tử vong bằng vaccine và thuốc.

Nhiều nước đã chuyển đổi chiến lược, xác định quan điểm “sống chung”, thích ứng với dịch bệnh. Vaccine và thuốc điều trị là chiến lược lâu dài, công cụ quyết định. “Ứng dụng khoa học trong phòng chống dịch là chìa khóa cốt lõi của thành công, để chiến thắng dịch bệnh”, Thủ tướng nói.

Đây là lần thứ hai người đứng đầu Chính phủ nhắc lại quan điểm phải sống chung lâu dài với dịch bệnh. Ngày 29/8, tại cuộc họp với đại diện hơn 1.000 xã, phường thuộc 20 tỉnh, thành đang giãn cách xã hội, Thủ tướng nhấn mạnh phải xác định nhận thức về tính chất khốc liệt, khó lường, khó dự báo của đại dịch.

“Chúng ta đặt mục tiêu kiềm chế, kiểm soát, song cũng xác định cuộc chiến này còn lâu dài, phải sống chung lâu dài với dịch bệnh, không thể khống chế tuyệt đối, phải thích ứng và có cách làm phù hợp”, Thủ tướng nói.

Thủ tướng Phạm Minh Chính phát biểu tại buổi gặp mặt các nhà khoa học trong lĩnh vực y tế, chiều 1/9. Ảnh: Nhật Bắc

Việc chống dịch chưa có tiền lệ nên các giải pháp về y tế chủ yếu dựa vào trí tuệ các nhà khoa học. Việt Nam đẩy lùi các đợt dịch bệnh trước đây dựa trên ba yếu tố: Sự chỉ đạo của các cấp; nhân dân đồng lòng; ứng dụng khoa học chống dịch.

“Công cuộc chống dịch của chúng ta giống như xây ngôi nhà. Để nhà vững chắc, chúng ta không thể thiếu những cây cột vững chãi, đó là ứng dụng khoa học trong chống dịch”, Thủ tướng phân tích và chỉ rõ đó là những đóng góp về biện pháp chống dịch; nghiên cứu, sản xuất vaccine, thuốc chữa bệnh; xây dựng phác đồ điều trị bệnh nhân Covid-19…

Trong cuộc chiến chống dịch gần hai năm nay, các nhà khoa học Việt Nam đã đạt được nhiều kết quả. Việt Nam là một trong bốn nước đầu tiên nuôi cấy, phân lập thành công nCoV; phát triển các bộ kit xét nghiệm Covid-19; thử nghiệm lâm sàng, thí điểm thuốc kháng virus; thử nghiệm vaccine có tiến triển tích cực.

Cùng với lực lượng tuyến đầu chống dịch, các nhà khoa học là lực lượng “tiền phương” thầm lặng nghiên cứu, sớm tìm ra thuốc, vaccine, phương pháp điều trị… và “cũng phải đối mặt với hiểm nguy không kém”.

Thủ tướng trao đổi với các nhà khoa học, chiều 1/9. Ảnh: Nhật Bắc

Tuy nhiên, Thủ tướng nêu rõ để chiến thắng Covid-19, cần sự cố gắng nhiều hơn của các nhà khoa học. “Tất cả ý kiến liên quan đến Covid-19 gửi đến Thủ tướng sẽ được xử lý, gửi tới cơ quan có trách nhiệm ngay trong ngày”, người đứng đầu Chính phủ cho biết.

Thời gian tới, các nhà khoa học cần có giải pháp nâng cao hơn nữa chất lượng điều trị bệnh nhân Covid-19, nhằm thực hiện mục tiêu giảm ca tử vong.

Tại buổi làm việc, PGS Nguyễn Viết Nhung, Giám đốc Bệnh viện Phổi Trung ương, cho rằng việc triển khai các trung tâm hồi sức tích cực là cần thiết nhưng không đủ mà cần nhiều giải pháp kết hợp để giảm ca tử vong do Covid-19.

Ông đánh giá việc tập trung nguồn lực điều trị ca nhiễm ở tầng 1 (triệu chứng nhẹ, không triệu chứng) và tầng 2 (có bệnh nền, người cao tuổi, phụ nữ mang thai), trong có lập trạm y tế ngay tại xã, phường là đúng. “Hệ thống điều trị ba tầng đã phát huy rõ rệt, giảm ca tử vong”, ông Nhung nói.

GS Trương Việt Dũng, Chủ tịch Hội đồng Đạo đức quốc gia trong nghiên cứu y sinh học và PGS Lê Văn Truyền, Hội đồng tư vấn cấp giấy đăng ký lưu hành thuốc, nguyên liệu làm thuốc (Bộ Y tế), đều khẳng định sẽ làm việc khẩn trương, họp bất kỳ lúc nào để xem xét, đánh giá vaccine trong nước.

 

Chuyên gia đề xuất giải pháp ứng phó khi đại dịch kéo dài

Trong bối cảnh đại dịch kéo dài, nhiều chuyên gia hiến kế Việt Nam cần xây dựng kịch bản ứng phó linh hoạt, đẩy mạnh chiến lược vaccine và thiết kế lại các dịch vụ xã hội.

Phát biểu tại cuộc họp với hơn 1.000 xã, phường thuộc 20 tỉnh, thành đang giãn cách xã hội, ngày 29/8, Thủ tướng Phạm Minh Chính nhấn mạnh, phải xác định nhận thức về tính chất khốc liệt, khó lường, khó dự báo của dịch bệnh.

“Chúng ta đặt mục tiêu kiềm chế, kiểm soát dịch bệnh, song cũng xác định cuộc chiến này còn lâu dài, phải sống chung lâu dài với dịch bệnh, không thể khống chế tuyệt đối, phải thích ứng và có cách làm phù hợp”, Thủ tướng nói.

Tại Đà Nẵng, Bí thư Thành ủy Nguyễn Văn Quảng cũng cho biết lãnh đạo thành phố đã tính đến kịch bản “sống chung với dịch“; đồng thời “mở lại hoạt động nào thì phải có sự chuẩn bị kỹ lưỡng, có điều kiện kèm theo; nếu không sẽ lại trở thành nguy cơ lây nhiễm”.

Đồng tình với các chủ trương trên, PGS Nguyễn Huy Nga, nguyên Cục trưởng Y tế dự phòng (Bộ Y tế), nhận định dịch bệnh ngày càng khó dự báo bởi đã lan rộng ở nhiều nơi, bùng phát trên nhiều địa bàn. Hơn 80% ca nhiễm có triệu chứng nhẹ hoặc không triệu chứng càng khiến mầm bệnh dễ phát tán.

“Tình hình hiện nay đã thay đổi, phải xác định rất khó có thể truy vết, cách ly triệt để tất cả F0 trong cộng đồng như trước đây, hay nói cách khác là rất khó để đưa dịch về “con số 0″, chúng ta chỉ có thể kiểm soát, đẩy lùi dịch bệnh”, ông Nga nêu quan điểm.

GS Nguyễn Văn Tuấn, Đại học New South Wales (Australia), phân tích đợt bùng phát dịch bệnh hiện nay xảy ra khắp thế giới chứ không riêng Việt Nam. Theo ông, có ba yếu tố dẫn đến thực trạng này, là thời gian, biến thể virus, mật độ dân số. Tốc độ gia tăng số ca nhiễm trong cộng đồng tại TP HCM nhanh, cho thấy có thể dịch đã “bén rễ” từ trước tháng 6. Hồi giữa tháng 7, chỉ trong hai tuần, số ca nhiễm tại thành phố tăng gấp đôi, chứng tỏ hệ số lây lan của virus trong đợt dịch này “khá cao so với trước”.

“Ở nhiều nơi trên thế giới, dịch bệnh bùng phát ở những vùng có mật độ dân số cao. Điều này phù hợp với tình hình TP HCM và các khu công nghiệp tại Bình Dương, Long An”, GS Tuấn phân tích.

Hai chuyên gia đều cho rằng khi xác định đại dịch còn kéo dài thì Việt Nam cần có chiến lược ứng phó phù hợp. GS Nguyễn Văn Tuấn nói dịch bệnh có thể “đến rồi đi, không ở lại mãi”; nhưng virus có thể tiếp tục biến chủng và tồn tại. “Theo quy luật tiến hóa thông thường, virus sẽ có khả năng lây lan nhiều hơn, nhưng ít nguy hiểm hơn (độc lực giảm). Sống chung với nCoV là chúng ta phải thay đổi lối sống để thích nghi với hoàn cảnh mới”, ông Tuấn nói.

PGS Nguyễn Huy Nga làm rõ thêm, sống chung với nCoV không có nghĩa là buông lỏng việc chống dịch. “Chúng ta chấp nhận có những ca F0 phát sinh trong cộng đồng, sẵn sàng tâm thế ứng phó khi có ổ dịch bùng phát”, ông Nga nói và nêu thực tế nhân loại đang sống chung với nhiều virus gây dịch bệnh truyền nhiễm khác nhau.

PGS.TS Nguyễn Huy Nga, nguyên Cục trưởng Y tế dự phòng. Ảnh: Nhân vật cung cấp

Chiến lược đầu tiên, theo PGS Nguyễn Huy Nga là sớm cho phép cách ly F1, F0 triệu chứng nhẹ tại nhà trên toàn quốc, thay vì chỉ áp dụng tại một số địa phương như hiện nay. “Biện pháp này giúp chủ động ứng phó khi dịch bùng phát, tránh quá tải bệnh viện. Cùng với đó tất cả người dân thực hiện tốt 5K. Nơi có dịch thì ưu tiên chống dịch, nhưng nơi an toàn ưu tiên sản xuất. Duy trì sản xuất cũng là duy trì nguồn lực để chống dịch lâu dài”, ông nói.

Tiếp theo, chuyên gia này nhìn nhận phong tỏa chỉ nên là biện pháp cuối cùng trong chống dịch. Địa phương cần linh hoạt áp dụng biện pháp giãn cách, “nếu phát hiện F0 chỉ nên phong tỏa một vài cụm nhà, ngõ phố, thay vì giãn cách cả thôn xóm, phường xã”.

“Bản lĩnh của lãnh đạo là vừa chống dịch hiệu quả nhưng vừa đảm bảo sản xuất, lưu thông hàng hóa. Nếu các địa phương không sớm xác định tinh thần sống chung với nCoV mà vẫn áp dụng biện pháp cứng nhắc trong thời gian dài thì sẽ để lại hệ lụy lớn về kinh tế – xã hội”, PGS Nga nhìn nhận và khuyến cáo các tỉnh, thành tham khảo ý kiến chuyên gia dịch tễ, xây dựng kế hoạch chống dịch lâu dài và kịch bản sống chung với nCoV phù hợp với điều kiện thực tế từng nơi.

Đại biểu Quốc hội Nguyễn Anh Trí, nguyên Viện trưởng Viện Huyết học truyền máu Trung ương, cũng cho rằng để chống dịch lâu dài, điều quan trọng là phải xây dựng được các kịch bản linh hoạt, phù hợp với từng địa bàn, thời kỳ, nguồn lực. Những vùng dịch bùng phát thì tập trung cứu chữa ca nhiễm, giảm F0 chuyển nặng, giảm tỷ lệ người bệnh nặng tử vong…

Giáo sư Nguyễn Anh Trí. Ảnh: Hoàng Phong

Thiết kế lại mô hình tổ chức xã hội, thay đổi thói quen để thích ứng với cuộc sống “bình thường mới”, là đề xuất của GS Nguyễn Văn Tuấn.

Ông Tuấn đề nghị cần thiết kế lại các phương tiện vận chuyển hành khách công cộng. Xe chở khách cần giảm số hành khách, bố trí lại ghế ngồi. Ông dẫn chứng, ở Australia trước đây một ghế trên tàu hỏa dành cho ba khách ngồi, nay giảm còn hai người. Ghế cho hai khách nay còn một người. Các nhà hàng cũng giảm khách mỗi bàn ăn. “Sắp tới, máy bay, xe điện, xe buýt, rạp chiếu phim… đều phải thiết kế lại chỗ ngồi để tuân thủ quy định giãn cách”, ông nói.

Với mỗi người dân, ông Tuấn cho rằng những việc như rửa tay trước và sau khi chế biến thức ăn, đi vệ sinh, thăm khám bệnh nhân… phải trở thành thói quen thường xuyên. Các bình diệt khuẩn được bố trí tại nhiều điểm công cộng.

Làm việc từ xa cũng sẽ là giải pháp quan trọng và xu hướng trong tương lai. Tại Australia, nhiều nơi đã xây dựng kế hoạch cho nhân viên làm việc tại nhà lâu dài. Những người đến công sở chủ yếu là làm việc cần máy móc tại chỗ. Công nghệ thông tin cần được ứng dụng mạnh mẽ hơn nữa vào việc “sống chung”.

Giáo sư Nguyễn Văn Tuấn. Ảnh: Đại học Tôn Đức Thắng

Đẩy mạnh chiến lược vaccine để sớm đạt miễn dịch cộng đồng cũng là giải pháp quan trọng để sống chung với nCoV. GS Nguyễn Anh Trí phân tích, sớm bao phủ vaccine cho tất cả người dân là cách nhanh nhất để Việt Nam thoát khỏi đại dịch. Trong khi nguồn cung vẫn hạn chế, nhất là khi một số nước triển khai tiêm mũi ba, Việt Nam có thể áp dụng nhiều biện pháp khác nhau, như mua, chuyển giao công nghệ, nghiên cứu sản xuất; mua lại, chuyển nhượng, vay mượn vaccine. “Đây là việc cần thiết và cấp bách”, ông Trí nói.

PGS Nguyễn Huy Nga đề nghị trong lúc chưa đủ vaccine bao phủ toàn dân thì ưu tiên cho người cao tuổi, bệnh nền. Ông lý giải, chủ trương này sẽ giảm tải cho hệ thống y tế nếu dịch bệnh bùng phát. Bởi người già, có bệnh nền nếu nhiễm Covid-19, phải vào viện điều trị sẽ lâu khỏi, nguy cơ tử vong cao. Cơ hội để cứu chữa các bệnh nhân Covid-19 khác, cũng như người mắc bệnh khác, sẽ giảm.

Tuy nhiên, ông khuyến cáo, khi Việt Nam đã tiêm đủ vaccine cho 70% dân số, đạt miễn dịch cộng đồng, thì mọi người vẫn cần tuân thủ 5K.

Đồng thời, nhà chức trách cần sớm nghiên cứu các quy định áp dụng giấy chứng nhận tiêm vaccine vào cuộc sống, như việc đi lại, sử dụng dịch vụ công cộng…

Về lâu dài, GS Nguyễn Văn Tuấn đề nghị Chính phủ cần ưu tiên cải tiến hệ thống giám sát dịch bệnh. Trong thời đại công nghệ thông tin, việc thiết kế các hệ thống báo động và theo dõi dịch bệnh trực tuyến từ cơ sở có thể giúp dự báo dịch bệnh nhanh, chính xác hơn.

Nhà nước cần đầu tư vào y tế công cộng. Hệ thống y tế công cộng của Việt Nam hiện nay đã tốt, nhưng cần đầu tư để tốt và hữu hiệu hơn. Cơ sở y tế cấp huyện cần được trang bị về nhân sự, thiết bị xét nghiệm, để nếu dịch bệnh bùng phát có thể kiểm soát nhanh nhạy.

Đầu tư cho nghiên cứu khoa học và vaccine là chiến lược lâu dài. Đại dịch Covid-19 cho thấy, Việt Nam bị phụ thuộc vào nguồn vaccine từ nước ngoài, trong khi nguồn cung khan hiếm. Vì vậy, thời gian tới, Nhà nước cần đầu tư cho nghiên cứu phát triển vaccine và thử nghiệm lâm sàng quy mô lớn. “Nghiên cứu vaccine xác suất thất bại cao, nhưng một xác suất thành công nhỏ có thể đem lại lợi ích rất lớn cho quốc gia”, GS Tuấn nói.

Theo VN Express