Đóng góp khoảng 27% GRDP toàn tỉnh và gần 75% giá trị tăng thêm của khu vực công nghiệp – xây dựng, ngành sản xuất điện giữ vai trò động lực đối với tăng trưởng kinh tế của Sơn La. Để có được thành quả đó, ngay từ những tháng đầu năm, các doanh nghiệp đã tập trung triển khai nhiều giải pháp tối ưu sản xuất, vận hành linh hoạt hiệu quả, tạo đà tăng trưởng những tháng cuối năm.
Trên địa bàn tỉnh Sơn La hiện có 3 thủy điện lớn, gồm: Thủy điện Sơn La, Huội Quảng, Nậm Chiến và 57 nhà máy thủy điện nhỏ, với tổng công suất 3.970 MW. Các nhà máy thủy điện sản xuất khoảng 12-15 tỷ kWh/năm, đóng góp từ 40-50% số thu ngân sách trên địa bàn, đóng vai trò là trụ cột tăng trưởng kinh tế của địa phương và đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia.
Trong 6 tháng đầu năm, sản lượng điện toàn tỉnh đạt 5,622 tỷ kWh, tăng 12,8% so với cùng kỳ năm 2025 (4,985 tỷ kWh). Tuy nhiên, sản lượng giữa các quý không đồng đều. Quý I/2026 đạt 2,2 tỷ kWh, tăng gần gấp đôi so với quý I/2025 (1,15 tỷ kWh); trong khi quý II/2026 đạt 3,422 tỷ kWh, giảm 10,74% so với quý II/2025 (3,834 tỷ kWh).Theo đánh giá của Sở Công Thương: Mức giảm sản lượng điện trong quý II chủ yếu do yếu tố thời điểm, chịu tác động của điều kiện thủy văn, kế hoạch sửa chữa và phương thức vận hành các bậc thang thủy điện, trong khi lượng nước về hồ năm nay kém thuận lợi hơn. Tuy nhiên, điều này không phản ánh sự suy giảm năng lực sản xuất, bởi các nhà máy thủy điện vẫn vận hành an toàn, ổn định và sẵn sàng phát điện theo yêu cầu huy động của hệ thống.
Mặt khác, sự chênh lệch sản lượng điện giữa hai quý chủ yếu xuất phát từ phương thức vận hành liên hồ trên cùng bậc thang thủy điện. Quý I, Nhà máy Thủy điện Bản Chát được huy động cao để hạ mực nước hồ phục vụ sửa chữa, qua đó tăng lưu lượng nước cho Nhà máy Thủy điện Huội Quảng phát điện. Đến quý II, Bản Chát giảm huy động để thực hiện sửa chữa, lưu lượng nước về hạ du giảm, trong khi Huội Quảng vận hành theo lưu lượng nước tự nhiên và kế hoạch bảo dưỡng, nên sản lượng phát điện giảm 61,44%.
Cùng với đó, những tháng cao điểm mùa khô năm 2026, mực nước tại nhiều hồ chứa xuống thấp. Cuối tháng 4/2026, mực nước thượng lưu hồ Sơn La ở mức 206,83 m, thấp hơn khoảng 8,17 m so với mực nước dâng bình thường 215 m và tiếp tục diễn biến phức tạp và khó lường, nguồn nước về các hồ chứa không theo quy luật, trong khi nhu cầu phụ tải điện có xu hướng tăng cao do các đợt nắng nóng kéo dài. Trước tình hình trên, Công ty Thủy điện Sơn La chủ động theo dõi sát diễn biến khí tượng thủy văn từ nhiều nguồn dự báo, để đề xuất vận hành liên hồ chứa thủy điện Lai Châu và Sơn La linh hoạt, hiệu quả.
Bước vào mùa mưa, nguồn nước dồi dào hơn là điều kiện thuận lợi để tăng sản lượng điện. Tuy nhiên, trước diễn biến thời tiết ngày càng khó lường, các đơn vị tiếp tục chủ động xây dựng, cập nhật nhiều kịch bản vận hành hồ chứa phù hợp với từng tình huống thủy văn, bảo đảm phát điện an toàn, hiệu quả và hài hòa với nhiệm vụ phòng, chống thiên tai. Trao đổi về giải pháp vận hành, sản xuất điện an toàn, hiệu quả, ngành Công Thương Sơn La chủ động phối hợp chặt chẽ với Công ty TNHH một thành viên Vận hành hệ thống điện và thị trường điện Quốc gia, Tập đoàn Điện lực Việt Nam và các đơn vị quản lý nhà máy để cập nhật dự báo thủy văn, xây dựng phương thức huy động nguồn điện phù hợp; khai thác hiệu quả nguồn nước trên các bậc thang thủy điện, hạn chế xả thừa không qua phát điện khi điều kiện kỹ thuật và an toàn cho phép.
Sở Công Thương tập trung đôn đốc các chủ đầu tư, đơn vị quản lý nhà máy thủy điện hoàn thành sửa chữa, bảo dưỡng theo kế hoạch, bảo đảm các tổ máy vận hành an toàn, sẵn sàng phát điện. Đồng thời, theo dõi sát sản lượng từng nhà máy để kịp thời tháo gỡ khó khăn; đẩy nhanh tiến độ các dự án nguồn và lưới điện, phát triển các nguồn năng lượng tái tạo phù hợp, từng bước đa dạng hóa cơ cấu nguồn điện, nâng cao tính ổn định của hệ thống. Cùng với đó, phối hợp với ngành Điện triển khai hiệu quả các giải pháp sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả, góp phần bảo đảm cung ứng điện an toàn và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của tỉnh.
Công ty Thủy điện Sơn La hiện quản lý, vận hành Nhà máy Thủy điện Sơn La (2.400 MW) và Nhà máy Thủy điện Lai Châu (1.200 MW). Năm 2026, EVN giao Nhà máy Thủy điện Sơn La sản xuất 8,593 tỷ kWh; đến nay đã đạt 4,95 tỷ kWh, bằng 57,6% kế hoạch. Riêng tháng 7, sản lượng điện của Nhà máy Thủy điện Sơn La vượt khoảng 46% kế hoạch, tăng khoảng 880 triệu kWh so với tháng 6.
Tiếp đó, là một trong ba nhà máy thủy điện lớn trên địa bàn tỉnh, Nhà máy thủy điện Nậm Chiến có công suất 200 MW, sản lượng điện thiết kế 813 triệu kWh/năm. Năm 2026, Nhà máy phấn đấu đạt 765 triệu kWh. Dù lưu lượng nước về hồ thấp hơn trung bình nhiều năm, nhờ tối ưu vận hành và bảo dưỡng thiết bị, sản lượng điện 6 tháng đầu năm đạt 299 triệu kWh, tăng 21% so với cùng kỳ năm 2025, mức cao nhất kể từ khi nhà máy đi vào hoạt động…
Với sự quan tâm, hỗ trợ của tỉnh cùng sự chủ động, linh hoạt của các doanh nghiệp trong vận hành hồ chứa và khai thác nguồn nước, ngành sản xuất điện được kỳ vọng sẽ tạo đà tăng trưởng trong những tháng cuối năm. Không chỉ bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, thủy điện tiếp tục là một trong những trụ cột của nền kinh tế Sơn La, đóng góp quan trọng vào tăng trưởng GRDP, thu ngân sách và tạo động lực cho phát triển bền vững của tỉnh./.
Anh Đức – Phạm Đức
