Ngày 28/5/2026, tại thành phố Cần Thơ, Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam cùng Trường Chính sách Công và Quản lý Fulbright công bố Báo cáo Kinh tế Thường niên ĐBSCL 2025 với chủ đề trọng tâm: Phát triển doanh nghiệp – động lực then chốt cho tăng trưởng. Thông điệp chính: ĐBSCL giàu tiềm năng, nhưng thiếu một hệ sinh thái doanh nghiệp đủ mạnh để biến các tiềm năng thành giá trị kinh tế và tăng trưởng bền vững. Kết luận quan trọng nhất được đưa ra: Doanh nghiệp phải trở thành động lực chính, là chủ thể kiến tạo mô hình tăng trưởng mới của ĐBSCL.
Toàn cảnh doanh nghiệp ở ĐBSCL
Báo cáo 2025 cho rằng “Vấn đề cốt lõi của ĐBSCL không phải là thiếu lợi thế, mà là thiếu một khu vực doanh nghiệp đủ mạnh để chuyển hóa các lợi thế đó thành năng suất, giá trị gia tăng và tăng trưởng bền vững”. Từ năm 2023, ĐBSCL trở thành vùng có mật độ doanh nghiệp thấp nhất cả nước. Nếu như vào năm 2000, ĐBSCL từng chiếm khoảng 22% tổng số doanh nghiệp cả nước, thì đến năm 2024 tỷ lệ này chỉ còn khoảng 7%. Những con số này cho thấy khu vực doanh nghiệp ở ĐBSCL không chỉ ít mà còn thiếu động lực tái tạo, thiếu sự nâng cấp về quy mô, và thiếu doanh nghiệp đầu chuỗi đủ năng lực dẫn dắt.
Toàn cảnh doanh nghiệp cho thấy ĐBSCL đã mất dần vị thế doanh nghiệp trong bản đồ kinh tế quốc gia. Trong giai đoạn 2015–2025, ĐBSCL có tốc độ tăng trưởng doanh nghiệp thấp nhất cả nước. Chất lượng doanh nghiệp cũng đáng lo ngại. Phân loại theo quy mô vốn, đến năm 2024, doanh nghiệp siêu nhỏ ở ĐBSCL chiếm tới 42%, mức cao nhất cả nước; tỷ trọng doanh nghiệp lớn cũng thuộc nhóm thấp nhất cả nước. Việc không còn Long An làm số việc làm mới hằng năm ở ĐBSCL giảm khoảng 30%. Đến năm 2025, số việc làm mới của Vùng chỉ bằng khoảng 1/4 Đông Nam Bộ và 1/5 Đồng bằng sông Hồng.
Cơ cấu ngành cho thấy một nghịch lý của ĐBSCL là tuy mạnh về nông nghiệp nhưng thiếu doanh nghiệp đủ mạnh trong chính lĩnh vực này. Số doanh nghiệp nông nghiệp của Vùng chỉ chiếm chưa tới 5%, trong khi nông nghiệp đóng góp hơn 30% GRDP toàn vùng. Khu vực dịch vụ chiếm khoảng 68% số doanh nghiệp nhưng đóng góp chưa tới 40% GRDP. Các ngành nền tảng như giáo dục – đào tạo, khoa học – công nghệ, vận tải – kho bãi, thông tin – truyền thông và logistics đều yếu, làm hệ sinh thái doanh nghiệp Vùng thiếu các dịch vụ hỗ trợ cần thiết để đi lên chế biến sâu, tiêu chuẩn cao và thị trường toàn cầu.
Thiếu trầm trọng doanh nghiệp tư nhân cỡ vừa
Doanh nghiệp tư nhân là lực lượng trung tâm nhưng đang bị kẹt trong hiện tượng “missing middle” (khoảng trống phân khúc trung bình- sự thiếu vắng nghiêm trọng các doanh nghiệp cỡ vừa). Năm 2000, doanh nghiệp tư nhân ĐBSCL từng chiếm gần 25% tổng số cả nước, nhưng suy giảm nhanh từ giai đoạn 2000–2005. Đến năm 2024, nếu phân theo quy mô lao động, doanh nghiệp siêu nhỏ chiếm tới 87,8% tổng số doanh nghiệp Vùng, trong khi doanh nghiệp nhỏ, vừa và lớn chỉ lần lượt chiếm 9,5%, 1,8% và 0,9%.
Vấn đề của ĐBSCL là thiếu năng lực tích lũy, thiếu tầng doanh nghiệp vừa, thiếu doanh nghiệp đầu chuỗi và thiếu cơ chế giúp doanh nghiệp nhỏ chuyển bậc quy mô.
FDI tại ĐBSCL là một khoảng trống lớn trong chiến lược nâng cấp doanh nghiệp. Đến năm 2024, toàn Vùng chỉ có 374 doanh nghiệp FDI đang hoạt động, với mật độ 2,4 FDI trên 100.000 dân, thấp nhất cả nước. Tuy nhiên, khu vực FDI lại tạo ra khoảng 310.000 việc làm, và sử dụng trung bình khoảng 829 lao động. Điều này cho thấy các FDI chủ yếu thâm dụng lao động, trong khi tỷ lệ vốn trên lao động thấp và liên kết với các ngành hỗ trợ yếu. ĐBSCL vì vậy không chỉ cần thêm FDI, mà cần FDI có liên kết, công nghệ, tiêu chuẩn quản trị và khả năng kéo doanh nghiệp bản địa vào chuỗi.
Các nút thắt doanh nghiệp của ĐBSCL
Báo cáo 2025 cho rằng: Doanh nghiệp nhà nước tại ĐBSCL không cần nhiều hơn về số lượng, mà cần được tái định vị thành nhà đầu tư nền tảng của Vùng. DNNN hiện vẫn phân tán, thiên về công ích truyền thống. Theo tinh thần Nghị quyết 79/NQ-TW về phát triển kinh tế nhà nước, doanh nghiệp nhà nước ở ĐBSCL cần đóng vai trò chiếm lĩnh các “cao điểm chiến lược” như logistics lạnh, năng lượng, môi trường, công nghệ sinh học, công nghiệp chế biến sâu, hạ tầng số, kiểm định và dữ liệu chuỗi giá trị nông – thủy sản, thay vì cạnh tranh trực tiếp với khu vực tư nhân.
Các nút thắt doanh nghiệp của ĐBSCL không hoạt động biệt lập mà tương tác với nhau, tạo thành một vòng xoáy đi xuống. Báo cáo xác định 9 nút thắt chính: 1. Mô hình phát triển dựa vào tài nguyên và giá trị gia tăng thấp; 2. Quá nhiều doanh nghiệp siêu nhỏ, quá ít doanh nghiệp dẫn dắt; 3. Logistics yếu và chi phí cao; 4. Thể chế và chi phí tuân thủ nặng; 5. Thiếu lao động kỹ năng và di cư; 6. Tín dụng chưa đủ cho chuyển đổi; 7. FDI ít và lan tỏa thấp; 8. DNNN chưa mở đường; 9. Văn hóa liên kết – lòng tin yếu.
Tái thiết hệ sinh thái doanh nghiệp
Thông điệp cốt lõi của Báo cáo là phải chuyển từ phát triển doanh nghiệp theo số lượng sang tái thiết hệ sinh thái doanh nghiệp Vùng. Doanh nghiệp tư nhân nội địa là nền tảng chính nhưng còn nhỏ và mỏng; FDI còn ít, thâm dụng lao động và mức độ lan tỏa thấp; doanh nghiệp nhà nước chưa làm đúng vai trò mở đường trong hạ tầng nền tảng như logistics lạnh, năng lượng, nước – môi trường, công nghệ sinh học, hạ tầng số và kiểm định chất lượng. Tái cấu trúc ba lực lượng này để ĐBSCL thoát mắc kẹt trong vòng xoáy đi xuống.
Khung hành động chính sách của Báo cáo xoay trục từ “phát triển dựa vào đầu tư và sản lượng” sang “phát triển dựa trên doanh nghiệp và hệ sinh thái”. Thay vì áp dụng các biện pháp hỗ trợ dàn trải, cơ chế chính sách mới đòi hỏi một kiến trúc tập trung nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh, thúc đẩy chuyển đổi xanh, số hóa và tăng cường quy mô liên kết chuỗi giá trị của khu vực doanh nghiệp nội vùng.
Tầm nhìn chiến lược đến năm 2030 định hướng chuyển đổi toàn diện ĐBSCL từ vùng cung ứng nguyên liệu thô sang hệ sinh thái kinh tế nông nghiệp đổi mới sáng tạo dựa trên các nguyên tắc phát triển thuận thiên và thích ứng khí hậu. Sự thịnh vượng của Vùng trong giai đoạn tới sẽ được định đoạt bởi năng lực của cộng đồng doanh nghiệp thông qua các sản phẩm có tiêu chuẩn, thương hiệu, dữ liệu, công nghệ, logistics, giá trị gia tăng và khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu. Làm được điều này, ĐBSCL có thể thoát khỏi vị thế cung ứng nguyên liệu thuần túy để trở thành một nền kinh tế nông nghiệp, một không gian tăng trưởng mới của Việt Nam. Đến năm 2030, đột phá của ĐBSCL sẽ không chỉ nằm ở những tuyến cao tốc, cảng biển hay khu công nghiệp mới, mà ở việc hình thành được một cộng đồng doanh nghiệp đủ sức biến tài nguyên bản địa thành giá trị gia tăng, biến thách thức khí hậu thành năng lực thích ứng, và biến bản sắc Vùng thành lợi thế cạnh tranh bền vững.
SÁU NGHỆ
