Giống như các lĩnh vực kinh tế – kỹ thuật khác, ngành chiếu sáng đô thị, công nghiệp và dân dụng cũng đã và đang bước vào công cuộc chuyển đổi số. Chính vì thực tế đó, các doanh nghiệp chiếu sáng đô thị, sản xuất thiết bị chiếu sáng cũng đang đẩy mạnh chuyển đổi số.
Xu hướng tất yếu
PGS.TS Nguyễn Hồng Tiến – Chủ tịch Hội Chiếu sáng Việt Nam cho biết, chuyển đổi số trong ngành chiếu sáng là việc khai thác, sử dụng những thành tựu khoa học, công nghệ, kỹ thuật số vào ngành chiếu sáng. Việc này sẽ góp phần nâng cao hiệu quả quản lý, vận hành hệ thống chiếu sáng tại các đô thị và tăng năng xuất lao động, nâng cao chất lượng. Đồng thời tăng sức cạnh tranh về chất lượng và giá trị sản phẩm, hàng hoá cũng như các doanh nghiệp công nghệ hoạt động trong lĩnh vực chiếu sáng.
Chuyển đổi số trong ngành chiếu sáng sẽ diễn ra tại cơ quan quản lý Nhà nước về chiếu sáng, các đơn vị, doanh nghiệp quản lý, vận hành hệ thống chiếu sáng đô thị, các công ty công nghệ chuyên sản xuất và cung cấp các giải pháp về chiếu sáng vật tư, thiết bị điện và điều khiển thông minh chiếu sáng.
PGS.TS Nguyễn Hồng Tiến nhấn mạnh: “Chuyển đổi số là điều kiện sống còn để ngành chiếu sáng bắt kịp xu thế toàn cầu và giữ vững vị thế trong chuỗi cung ứng công nghệ hiện đại.”
Chưa bao giờ ngành chiếu sáng Việt Nam lại đứng trước một cuộc cách mạng sâu rộng như hiện nay. Từ thiết kế, sản xuất, phân phối đến quản lý vận hành, các khâu trong chuỗi giá trị đang được số hóa mạnh mẽ. Những doanh nghiệp đi đầu như Rạng Đông, Hapulico, Signify đã đầu tư lớn vào các công nghệ như IoT, trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (Big Data), tạo nên các hệ sinh thái chiếu sáng thông minh có khả năng điều khiển từ xa, học hỏi hành vi người dùng và tối ưu hóa năng lượng theo thời gian thực.
Các đô thị như Hà Nội, TP.HCM, Huế… đang từng bước triển khai hệ thống đèn đường tự điều chỉnh độ sáng theo thời gian, thời tiết và lưu lượng giao thông – giúp tiết kiệm đến 30% điện năng và chi phí bảo trì.
Ở quy mô doanh nghiệp, việc tích hợp các hệ thống quản trị số như ERP, CRM không chỉ nâng cao hiệu quả vận hành mà còn chuyển dịch mô hình kinh doanh từ bán thiết bị đơn lẻ sang cung cấp giải pháp chiếu sáng tổng thể, hướng tới trải nghiệm người dùng và phát triển bền vững.
Tuy nhiên, khoảng cách số giữa doanh nghiệp lớn và nhỏ đang tạo ra thách thức đáng kể. Phần lớn doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs) vẫn thiếu nguồn lực tài chính và nhân lực công nghệ, dẫn đến triển khai chuyển đổi chậm hoặc nửa vời.
Không chỉ dừng lại ở chiếu sáng, các hệ thống chiếu sáng thông minh đang dần trở thành hạ tầng nền tảng cho đô thị thông minh, kết nối với mạng lưới dữ liệu đô thị, hệ thống giao thông, camera an ninh và cảm biến môi trường. Chiếu sáng không còn là chi phí mà đang được tái định nghĩa là đầu tư chiến lược để xây dựng đô thị số – đô thị xanh – đô thị đáng sống.
Gắn liền với chuyển đổi xanh
Nếu như quá trình chuyển đổi số chiếu sáng đêm lại hiệu quả về tiết kiệm năng lượng thị đó cũng là quá trình chuyển đổi xanh của ngành chiếu sáng Việt Nam. Khi hai xu hướng này kết hợp, không chỉ năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp được nâng cao mà còn góp phần quan trọng vào việc thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững (SDGs) do Liên Hợp Quốc đề ra.
Mối quan hệ giữa chuyển đổi số và chuyển đổi xanh mang tính tương hỗ sâu sắc. Chuyển đổi số đóng vai trò là công cụ hỗ trợ đắc lực cho chuyển đổi xanh thông qua việc giám sát, phân tích và tối ưu hóa quá trình sử dụng năng lượng. Ngược lại, những yêu cầu ngày càng khắt khe về môi trường cũng là động lực thúc đẩy doanh nghiệp đẩy mạnh số hóa để đảm bảo tính tuân thủ, minh bạch và kiểm soát hiệu quả hơn.
Chuyển đổi kép trong ngành chiếu sáng mang lại nhiều giá trị thiết thực. Các nghiên cứu cho thấy, việc tích hợp công nghệ số vào quy trình vận hành giúp doanh nghiệp tiết kiệm từ 15–30% chi phí vận hành, đồng thời nâng cao hiệu suất sử dụng năng lượng. Việc chuyển đổi sang đèn LED giúp giảm từ 30–70% mức tiêu thụ điện năng so với các giải pháp truyền thống. Đồng thời, các sản phẩm chiếu sáng thông minh có khả năng điều khiển từ xa, phân tích dữ liệu tiêu dùng và tự động điều chỉnh chế độ chiếu sáng giúp nâng cao trải nghiệm người dùng và đáp ứng đa dạng nhu cầu của thị trường hiện đại.
Thực tế cho thấy, ngành chiếu sáng tại Việt Nam đã trải qua quá trình chuyển đổi quan trọng, từ đèn sợi đốt đến đèn huỳnh quang, và hiện tại là đèn LED – biểu tượng của công nghệ chiếu sáng hiện đại. Trong những năm gần đây, ngành này đã chuyển mình từ sản xuất thiết bị đơn thuần sang cung cấp các giải pháp chiếu sáng thông minh, tiết kiệm năng lượng và thân thiện môi trường. Theo thống kê của Bộ Công Thương, chiếu sáng chiếm khoảng 35% tổng tiêu thụ điện năng trong các công trình xây dựng tại Việt Nam – con số cho thấy tính cấp thiết của việc cải thiện hiệu suất sử dụng năng lượng.
Về chuyển đổi số, nhiều doanh nghiệp trong ngành đã bắt đầu ứng dụng công nghệ trong thiết kế sản phẩm, quản lý chuỗi cung ứng và chăm sóc khách hàng. Các hệ thống chiếu sáng thông minh ứng dụng IoT, nền tảng ERP trong sản xuất, hay AI trong phân tích hành vi tiêu dùng đang dần phổ biến.
Chuyển đổi xanh trong ngành chiếu sáng đang ghi nhận nhiều bước tiến rõ rệt. Việc chuyển từ đèn huỳnh quang sang LED giúp tiết kiệm 30–70% điện năng, đồng thời nhiều doanh nghiệp đã phát triển sản phẩm đạt chuẩn RoHS và sử dụng vật liệu thân thiện môi trường. Các dự án chiếu sáng công cộng, cảnh quan, di tích ứng dụng đèn LED hiệu suất cao góp phần giảm phát thải khí nhà kính. Bên cạnh đó, xu hướng kết hợp chiếu sáng tiết kiệm với điện năng lượng mặt trời áp mái ngày càng phổ biến, nhất là trong bối cảnh giá điện tăng và yêu cầu cắt giảm phát thải trở nên cấp thiết.
Có thể thấy, đã có những doanh nghiệp trong ngành bước đầu kết hợp chuyển đổi số và chuyển đổi xanh để tạo ra các giải pháp toàn diện. Điển hình, Công ty Cổ phần Tập đoàn Điện Quang đã triển khai hệ sinh thái chiếu sáng thông minh tích hợp cảm biến và điều khiển từ xa, phát triển ứng dụng di động cho phép người dùng cá nhân hóa trải nghiệm ánh sáng. Doanh nghiệp này cũng đã lắp đặt thành công nhiều hệ thống điện năng lượng mặt trời áp mái tại các công trình dân dụng, tòa nhà văn phòng và nhà máy, góp phần tiết kiệm chi phí vận hành và tận dụng hiệu quả nguồn năng lượng sạch.
Tuy nhiên, nhìn chung trong toàn ngành, mức độ triển khai chuyển đổi kép vẫn chưa đồng đều giữa các doanh nghiệp – đặc biệt là giữa các đơn vị lớn có năng lực đổi mới sáng tạo và nhóm doanh nghiệp nhỏ còn gặp nhiều hạn chế về nguồn lực.
Đức Hoàng