ĐBSCL đối diện 3 vòng xoáy đi xuống

4

 

Báo cáo Kinh tế Thường niên ĐBSCL năm 2022 phân tích vùng nông nghiệp quốc gia đang chịu 3 vòng xoáy đi xuống và đưa ra một thông điệp chủ chốt là chỉ bằng cách phá vỡ các vòng xoáy đó thì mới có thể chuyển đổi nông nghiệp sang hướng bền vững, tăng giá trị nông sản, nâng cao thu nhập cho người dân. Ba vòng xoáy đi xuống về kinh tế, xã hội và môi trường.

 

Vòng xoáy đi xuống và nhu cầu chuyển đổi nông nghiệp ở ĐBSCL

Vòng xoáy thách thức kinh tế

Đầu tiên là ĐBSCL được giao sứ mệnh đảm bảo an ninh lương thực quốc gia. Mặc dù chính sách kiên quyết giữ đất lúa đã giúp Việt Nam xóa đói và trở thành quốc gia xuất khẩu gạo hàng đầu, nhưng lại không giúp Việt Nam trở nên thịnh vượng và người nông dân trở nên khá giả do năng suất bị kìm hãm. Nếu các hạn chế về diện tích đất lúa được nới lỏng, Việt Nam vẫn hoàn toàn đáp ứng được yêu cầu an ninh lương thực, đồng thời có thể phát triển các hoạt động nông nghiệp khác có năng suất cao hơn, nhờ đó tăng thu nhập,

Thách thức kinh tế thứ hai là nền nông nghiệp của ĐBSCL chậm hiện đại hoá. Đầu tiên là do nền nông nghiệp vẫn dựa chủ yếu vào kinh tế nông hộ với diện tích đất canh tác nhỏ và manh mún. Đây là một rào cản quan trọng cho việc chuyển trọng tâm từ sản xuất nông nghiệp sang kinh tế nông nghiệp. Thứ hai, nguồn lực đất đai chưa được phân bổ một cách hiệu quả, trong đó khoảng một nửa diện tích vẫn độc canh cây lúa. Ngoài ra, còn có một số nguyên nhân khác như nông sản chưa được chuẩn hóa về chất lượng và an toàn, quá phụ thuộc một số thị trường dễ dãi qua đường tiểu ngạch, hầu như vắng bóng thương hiệu uy tín, mang dấu ấn của vùng.

Thách thức kinh tế thứ ba là vốn đầu tư hạn chế. Tỷ trọng vốn đầu tư của ĐBSCL thấp hơn nhiều so với tỷ trọng đóng góp về GDP hay dân số. Thu và chi ngân sách nhà nước trên đầu người của ĐBSCL cũng thấp hơn so với mức bình quân cả nước. Hệ quả là so với những vùng khác của cả nước, giao thông đường bộ nội vùng cũng như kết nối với vùng TPHCM còn rất yếu kém, do vậy rất kém hấp dẫn với các nhà đầu tư. Vòng xoáy đầu tư này, đến lượt mình, làm trầm trọng thêm vòng xoáy về lao động và cấu trúc kinh tế.

Vòng xoáy thách thức xã hội

Đầu tiên là thiếu việc làm ở nông thôn. Tỷ lệ thiểu việc làm trong độ tuổi lao động của ĐBSCL năm 2020 là 3,47%, cao thứ hai toàn quốc, chỉ sau Tây Nguyên. Tỷ lệ thiệu việc làm ở khu vực nông thôn cao gấp đôi so với khu vực thành thị (3,97% so với 1,87%). Nguyên nhân chính là do quá trình cơ giới hóa và chuyển đổi cơ cấu kinh tế khiến lao động trong khu vực nông nghiệp trở nên dôi dư, trong khi khu vực công nghiệp và dịch vụ phát triển chậm nên không hấp thụ hết. Bên cạnh đó, diện tích đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp do tác động của xâm nhập mặn, hạn hán,… khiến nhiều lao động nông thôn không còn đất để canh tác, lâm vào tình trạng thất nghiệp, mất việc làm.

Thách thức xã hội thứ hai ở ĐBSCL là tình trạng di cư. Sự chênh lệch về mức sống và cơ hội việc làm dẫn đến luồng di cư từ ĐBSCL lên các đô thị và khu công nghiệp ở vùng TPHCM. Quá trình này dẫn đến già hóa dân số, gây thiếu hụt nguồn lao động, và gia tăng áp lực về hỗ trợ tài chính cho người già ở nông thôn do không có người chăm sóc. Đại dịch COVID-19 đã tạo ra làn sóng di cư ngược về ĐBSCL, kéo theo sự lây lan dịch bệnh ra các tỉnh thành ĐBSCL và làm tăng gánh nặng xã hội cho các địa phương.

Thách thức xã hội thứ ba là tình trạng nghèo. Thu nhập bình quân đầu người của ĐBSCL trong năm 2019 là 3,9 triệu đồng/tháng, thấp hơn mức 4,2 triệu đồng/tháng của cả nước. Chỉ có Cần Thơ – đô thị trung tâm của Vùng, cùng với Tiền Giang và Long An – hai tỉnh gần TPHCM là có mức thu nhập nhỉnh hơn trung bình cả nước một chút. Mặc dù ĐBSCL có tỷ lệ hộ nghèo đa chiều (độ rộng của nghèo) giảm mạnh từ 19,5% năm 2016 xuống 8,1% năm 2020, nhưng ĐBSCL vẫn xếp thứ hai về nghèo đa chiều, chỉ đứng trên khu vực Tây Nguyên. Bên cạnh đó, mức độ thiếu hụt (độ sâu của nghèo) gần như không được cải thiện,

Thách thức xã hội thứ tư là vốn tri thức và kỹ năng của lao động còn thấp. ĐBSCL có tỷ lệ lao động đã qua đào tạo (14,9%) và tỷ trọng lực lượng lao động có trình độ đại học trở lên (6,8%) thấp nhất cả nước, Đến năm 2020, ĐBSCL vẫn có trên 90% lao động nông nghiệp trong độ tuổi lao động chưa qua đào tạo kỹ thuật và chỉ có 4,3% lao động có trình độ sơ cấp trở lên,

Vòng xoáy thách thức môi trường

Đầu tiên là các tác động từ thượng nguồn Mekong. Các công trình thủy điện thượng nguồn làm giảm đáng kể lượng phù sa và cát do bị các hồ chứa giữ lại. Hệ quả là gây ra sạt lở bờ sông và làm đất bạc màu. Việc đầu tư hệ thống thủy lợi dẫn nước ngọt từ sông Mekong cho các vùng thâm canh nông nghiệp của Thái Lan và Campuchia cũng tạo ra nguy cơ thiếu nguồn nước tưới ở ĐBSCL, đặc biệt vào mùa khô. Hiện nay mực nước sông Mekong xuống rất thấp, lưu lượng bình quân dòng chảy chỉ còn khoảng 1.700 – 2.500 m3/giây khiến nước mặn từ biển tràn vào làm hơn nửa diện tích tự nhiên bị nhiễm mặn,

Thách thức thứ hai về môi trường là suy giảm nguồn nước. Các hệ thống thủy điện sông Mekong đã tác động đến đến dòng chảy, làm giảm đáng kể mực nước sông Mekong, đồng thời gây đảo lộn hệ sinh thải ven sông vùng hạ lưu. Hệ quả đối với ĐBSCL là ở khu vực đầu nguồn, sản xuất nông nghiệp bị xảo trộn còn ở khu vực ven biển, xâm nhập mặn trầm trọng thêm. Thách thức về nguồn nước còn đến từ chính vùng ĐBSCL. Hệ thống đê bao khép kín ở các tỉnh đầu nguồn như An Giang, Đồng Tháp làm tăng mực nước trên các hệ thống sông trong mùa lũ, gây rủi ro vỡ đê và làm ngập các khu vực lân cận và hạ lưu. Sự phân bổ nguồn nước không đồng đều gây khó khăn cho nông dân trong việc bố trí lịch thời vụ (lúa) và chuyển đổi nông nghiệp sang các hoạt động có năng suất cao hơn,

Thách thức môi trường thứ ba là chất lượng đất trồng suy giảm. Ở khu vực thượng nguồn (Đồng Tháp Mười và Tứ Giác Long Xuyên), hệ thống đê bao và các tuyến kênh thoát lũ ra biển Tây đã ngăn không cho nước lũ vào sâu trong nội đồng và khiến đất đai ngày càng suy kiệt, Để duy trì năng suất, nông dân buộc phải bổ sung một lượng lớn phân bón hóa học. Việc thâm canh lúa liên tục cũng khiến thời gian đất bị ngâm nước khá dài, vi sinh vật hiếu khí bị giảm và thay bằng vi sinh yếm khí, thải nhiều chất độc trong đất hơn. Tất cả những điều này làm giảm chất lượng đất canh tác. Kết quả tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp giữa kỳ năm 2020 cho thấy khoảng 30% số hộ nông nghiệp vùng ĐBSCL có đất trồng trọt bị thoái hoá,

Thách thức môi trường thứ tư là biến đổi khí hậu. Kết quả dự phòng BĐKH giai đoạn 2010-2040 cho thấy nhiều khu vực của ĐBSCL sẽ bị ảnh hưởng khả nghiêm trọng. Cụ thể là nhiệt độ cao nhất trung bình trong mùa khô sẽ tăng, lượng mưa đầu vụ hè thu sẽ giảm, mùa mưa sẽ bắt đầu trễ hơn, diện tích ngập do lũ sẽ tăng, áp thấp nhiệt đới và bão có xu hướng gia tăng vào cuối năm, và số trận bão lốc đổ bộ trực tiếp vào vùng ven biển ĐBSCL sẽ có xu thế gia tăng,… Những tác động này ngay lập tức ảnh hưởng đến năng suất nông nghiệp, khiến cuộc sống và sinh kế của nông dân vùng ĐBSCL vốn đã khó khăn còn trở nên bấp bênh hơn.

Sơ đồ 4 trụ cột chuyển đổi nông nghiệp ở ĐBSCL

 

Đề xuất 4 thay đổi cơ bản

Báo cáo đề xuất chiến lược chuyển đổi nông nghiệp ĐBSCL dựa trên bốn thay đổi cơ bản về tầm nhìn, thể chế, khoa học – công nghệ và cơ cấu.

Thay đổi tầm nhìn, nhờ đó xác định được đích đến một cách đúng đắn, phù hợp với xu thế phát triển nông nghiệp hiện đại, đồng thời gỡ bỏ được một số “vòng kim cô” ngăn cản sự phát triển nông nghiệp của ĐBSCL trong quá khứ.

Thay đổi thể chế một cách có hệ thống (như chế độ sở hữu đất, vai trò nhà nước – hiệp hội – doanh nghiệp, cơ chế quản trị vùng, cụm ngành, chuỗi giá trị v.v.), nhờ đó tạo ra các khuyến khích giúp tăng năng suất và giá trị một cách bền vững.

Thay đổi khoa học – kỹ thuật như cơ giới hóa, chuyển đổi số, sản xuất thông minh, nông nghiệp xanh, kinh tế tuần hoàn.

Thay đổi cơ cấu nông nghiệp, trong đó chất lượng và giá trị nông sản không ngừng được cải thiện, sản xuất nông nghiệp ngày càng gần bó hữu cơ với hoạt động công nghiệp và dịch vụ, cơ cấu phân bổ sử dụng đất duy lý và hiệu quả hơn, cơ cấu việc làm, thu nhập, tiêu dùng của nông nghiệp – nông dân – nông thôn ngày một hiện đại.

Báo cáo nhấn mạnh: “Chuyển đổi nông nghiệp cũng không nên ôm đồm quá nhiều mục tiêu vì như thế sẽ làm cho cả tầm nhìn chiến lược lẫn định hướng chính sách trở nên thiếu rõ ràng và mạch lạc”. Với cách tiếp cận này, Báo cáo đề xuất bốn mục tiêu chính của chuyển đổi nông nghiệp ở ĐBSCL: Tăng thu nhập một cách ổn định, bền vững cho nông dân; Hiện đại hóa nền nông nghiệp; Phát triển nền kinh tế nông nghiệp theo cơ chế thị trường; Phát triển nông nghiệp bền vững theo mô hình “thuận tự nhiên”.

SÁU NGHỆ (giới thiệu)

BOX

Báo cáo Kinh tế Thường niên ĐBSCL 2022, báo cáo nghiên cứu kinh tế cấp vùng đầu tiên và duy nhất của cả nước do Chi nhánh VCCI tại Cần Thơ phối hợp với Trường Chính sách Công và Quản lý Fulbright thực hiện. Chủ biên là Nguyễn Phương Lam và Vũ Thành Tự Anh với Nhóm nghiên cứu có 20 người.